TÌM HIỂU VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN ĐẤU GIÁ BĂNG TẦN 2.6Ghz

14/11/2018 Lượt xem: 183

Các đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông di động và thị phần trên các mạng di động

     Qua tìm hiểu thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng và kết quả thống kê cho thấy, thời gian qua thị trường viễn thông, Internet của Việt Nam tiếp tục có sự cạnh tranh tích cực. Năm 2016, cả nước có 74 doanh nghiệp đang cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất, giảm 6 doanh nghiệp so với năm 2015; số doanh nghiệp đang cung cấp dịch vụ Internet là 51, giảm 1 doanh nghiệp so với năm 2015. Tổng doanh thu lĩnh vực viễn thông, Internet năm 2016 đạt 136.499 tỷ đồng, tương đương 6,16 tỷ USD, tăng 1,6% so với năm 2015.

     Đáng chú ý, theo số liệu thống kê trong Sách Trắng CNTT-TT năm 2017, trong năm 2016, thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông di động (gồm cả 2G và 3G) tiếp tục có sự góp mặt của 5 doanh nghiệp là Viettel, VNPT, MobiFone, Vietnamobile và GTel. Tuy nhiên, so với số liệu tại thời điểm năm 2013 đã được công bố trong Sách Trắng CNTT năm 2014, trong khi 2 doanh nghiệp lớn là Viettel và VNPT nâng được tỷ lệ nắm giữ trong “miếng bánh” thị trường dịch vụ di động, thì 3 nhà mạng khác là MobiFone, Gtel và Vietnamobile đều bị thu hẹp thị phần dịch vụ viễn thông di động.

     Cụ thể, Viettel đã nâng thị phần dịch vụ viễn thông di động từ 43,5% của năm 2013 lên chiếm 46,7% trong năm 2016; VNPT chiếm 22,2% thị phần, tăng 4,8% so với năm 2013. Thị phần dịch vụ viễn thông di động của MobiFone bị giảm mạnh hơn cả, từ chỗ chiếm 31,78% thị phần năm 2013 thì đến năm 2016 con số này là 26,1%. Tỷ lệ giảm thị phần dịch vụ viễn thông di động của Vietnamobile và GTel trong năm 2016 so với thời điểm 2013 lần lượt là 1,17% (từ 4,07% xuống còn 2,9%) và 1,12% (từ 3,22% xuống còn 2,1%).

Thị phần các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ di động mặt đất phát sinh lưu lượng thoại và tin nhắn (2G) của Việt Nam năm 2016 (Nguồn: Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam 2017)

Thị trường thuê bao di động trong cả nước và các kế hoạch phát triển các thuê bao

     Theo số liệu tại Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam 2017, tính đến cuối năm ngoái, Việt Nam đã có gần 36,2 triệu thuê bao băng rộng di động (3G).

     Tổng thuê bao điện thoại di động phát sinh lưu lượng thoại, tin nhắn và dữ liệu (cả 2G và 3G) đạt trên 128 triệu thuê bao, trong đó có gần 36,2 triệu thuê bao băng rộng di động (3G), đạt tỷ lệ 39 thuê bao/100 dân. Tổng số thuê bao truy cập băng rộng cố định đạt hơn 9 triệu thuê bao.

Thị phần (thuê bao) các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ di động mặt đất phát sinh lưu lượng thoại, tin nhắn, dữ liệu (2G và 3G) của Việt Nam năm 2016 (Nguồn: Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam 2017)

Thị phần (thuê bao) các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ di động mặt đất phát sinh lưu lượng thoại, tin nhắn, dữ liệu (3G) của Việt Nam năm 2016 (Nguồn: Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam 2017)

     Trong đó, nếu xét riêng về thị phần (thuê bao) dịch vụ 2G, Viettel dẫn đầu, chiếm 42,5%; tiếp đó là MobiFone và VNPT, lần lượt nắm giữ 30% và 21,5% thị phần. Tương tự, đối với thị trường cung cấp dịch vụ 3G, năm 2016 số thuê bao di động 3G của mạng Viettel chiếm tới 57,7% tổng số thuê bao 3G, tăng hơn 16% so với năm 2013. Còn thị phần dịch vụ 3G của VNPT là 23,9%, tăng 1,4% so với năm 2013; thị phần dịch vụ 3G của MobiFone bị giảm từ 33,5% năm 2013 xuống còn 16,1% năm 2016.

     Về thị phần (thuê bao) của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ băng rộng cố định mặt đất, trong số các doanh nghiệp đang triển khai kinh doanh dịch vụ này, năm 2016, thị phần của VNPT vẫn lớn nhất, chiếm 46,1%; tiếp đó là Viettel, chiếm 26,1%; FPT chiếm 18,6%; SCTV chiếm 5,7%; và 3,5% thi phần dịch vụ băng rộng cố định mặt đất thuộc về các doanh nghiệp khác như CMC, SPT, NetNam, GDS, VTC…

Thị phần (thuê bao) các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ băng rộng cố định mặt đất tại Việt Nam năm 2016.

Kế hoạch triển khai bán đấu giá băng tần 2.6Ghz vào thị trường viễn thông di động và các hiệu ứng sử dụng (nếu có).

     Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, cuối năm 2016, Bộ đã cấp giấy phép cho 5 doanh nghiệp (VNPT, Viettel, Mobifone, Vietnamoblie, Gtel) triển khai 4G trên băng tần 1800 MHz. Tính đến thời điểm hiện tại, trừ Gtel, các doanh nghiệp đã chính thức cung cấp dịch vụ 4G tới người dùng. Trong đó, VNPT và Viettel đã triển khai 4G trên băng 1800 MHz với các băng thông 10 MHz, 15 MHz, 20 MHz. Mobifone hầu hết đã triển khai băng thông 10 MHz.

     Sau hơn 1 năm chính thức triển khai 4G, đã có trên 13 triệu thuê bao băng rộng di động phát sinh lưu lượng qua mạng, chiếm khoảng gần 30% tổng số thuê bao băng rộng, tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã, thị trấn. Lưu lượng dữ liệu trao đổi trung bình qua mạng di động tại thời điểm năm 2018 đã đạt khoảng 136.934 thuê bao/tháng và gấp đôi so với thời điểm năm 2016.

      Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, ngoài băng tần 1800 MHz, hiện có 2 băng tần đã sẵn sàng cho 4G là băng 2.6 GHz và băng 850 MHz. Đối với băng tần 2.6 GHz, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh mục băng tần đấu giá, tuy nhiên trong quá trình triển khai đã phát sinh một số vướng mắc.

     Tại cuộc họp, các đại biểu đã thảo luận, trao đổi những khó khăn liên quan đến quy trình, thủ tục trong triển khai đấu giá băng 2.6 GHz; việc xác định giá khởi điểm; làm rõ việc pháp luật áp dụng chưa thật sự rõ ràng và đầy đủ đối với tài sản đấu giá đặc thù là tần số vô tuyến điện… Từ đó, các đại biểu đề xuất các biện pháp tháo gỡ nhằm triển khai hiệu quả công nghệ 4G tại Việt Nam.

     Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho rằng, thực chất nguồn thu từ việc cấp phép không so sánh được với những thiệt hại của doanh nghiệp, xã hội từ việc chậm trễ triển khai mạng 4G.

     Nhấn mạnh “Không thể nào chấp nhận mạng 4G mà chất lượng kém như hiện tại”, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Phạm Hồng Hải mong muốn các bộ, ngành đồng thuận để Bộ giải quyết thủ tục, cấp phép sớm cho các doanh nghiệp. 

     Đại diện Bộ Quốc phòng khẳng định, việc cấp phép khai thác băng tần 2.6 GHz không chỉ giải quyết bức xúc cho doanh nghiệp viễn thông mà còn bảo đảm an ninh, quốc phòng.

     Đại diện Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp cho rằng, thực chất không có vướng mắc về các quy định của pháp luật liên quan đến việc cấp phép băng tần 2.6 GHz. Quy định đấu giá rất rõ ràng, các hình thức cấp phép, thi tuyển, đấu giá đều tuân thủ quy định của Luật Tần số vô tuyến điện.

     Kết thúc cuộc họp, các bộ, ngành thống nhất phải làm việc trực tiếp đến cùng, thật cụ thể để có quyết định cấp phép khai thác băng tần 2.6 GHz sớm nhất cho các doanh nghiệp viễn thông triển khai mạng 4G nhanh nhất có thể, theo đúng quy định của pháp luật.

Nguồn: Internet

Tin liên quan